Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

CV 6167/CT-TTHT ngày 29/08/2013 về viết tắt một số chỉ tiêu trên hóa đơn

Số: 6167/CT-TTHT
V/v: viết tắt một số chỉ tiêu trên hóa đơn
TP. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 08 năm 2013

Kính gửi:
- Các phòng Kiểm tra, Thanh tra thuộc Cục;
- Các Chi cục thuế quận, huyện.

Trong thời gian qua, Cục Thuế TP nhận được nhiều phản ánh của các doanh nghiệp về việc cơ quan thuế không chấp nhận (không cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào, không tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN) các hóa đơn GTGT mà tất cả các chỉ tiêu, nội dung trên hóa đơn đều đúng, chỉ ghi tắt hoặc rút gọn chỉ tiêu tên, địa chỉ người mua, người bán.

Về vấn đề này, Cục Thuế TP có ý kiến như sau:
- Tại Khoản 2b Điều 14 Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15/5/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định:
Nội dung trên hóa đơn đã lập: Tiêu thức "Tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán", "tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua": ghi tên đầy đủ hoặc tên viết tắt theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế.

Như vậy, về nguyên tắc, khi lập (nhận) hóa đơn, tiêu thức tên, địa chỉ của người bán và người mua được ghi theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký thuế. Trên thực tế có rất nhiều Công ty có tên và địa chỉ nếu ghi đầy đủ theo Giấy chứng nhận ĐKKD thì không thể ghi hết một dòng tại chỉ tiêu tên, địa chỉ trên tờ hóa đơn, hơn nữa việc viết tắt hoặc rút gọn một số danh từ thông dụng như: "Phường" thành "P"; "Quận" thành "Q", "Thành phố Hồ Chí Minh" thành "TP.HCM", "Việt Nam" thành "VN" hoặc "Cổ phần" là "CP", "Trách nhiệm Hữu hạn" là "TNHH", "khu công nghiệp là "KCN", "sản xuất" là "SX",… vẫn xác định được tên, địa chỉ Công ty và để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN khi lập hóa đơn mua bán hàng hóa, dịch vụ, Cục Thuế TP đã có nhiều văn bản trả lời cho doanh nghiệp (có gửi cho các Phòng, Chi cục): hóa đơn có viết tắt hoặc rút gọn tên, địa chỉ như trên thì vẫn được xem là hợp pháp, được sử dụng để kê khai thuế.

Cục Thuế thông báo đến các Phòng, các Chi cục biết để thực hiện thống nhất./.

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN và NĐ số 65/2013/NĐ-CP

Ngày 15 tháng 08 năm 2013 Bộ Tài Chính ban hành Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện luật thuế thu nhập cá nhân và nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều luật thuế thu nhập cá nhân và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế Thu Nhập Cá Nhân.

Theo thông tư này:

♦ Các nội dung về chính sách thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP hiệu lực từ thời điểm Luật, Nghị định có hiệu lực (01/7/2013).

♦ Bãi bỏ hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân tại các Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008, 10/2009/TT-BTC ngày 21/01/2009, 42/2009/TT-BTC ngày 09/3/2009, Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009, 161/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009, 164/2009/TT-BTC ngày 13/8/2009, Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010, 12/2011/TT-BTC ngày 26/01/2011, 78/2011/TT-BTC ngày 08/6/2011, Thông tư số 113/2011/TT-BTC ngày 04/8/2011 của Bộ Tài chính.

♦ Bãi bỏ các nội dung hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân do Bộ Tài chính ban hành trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành không phù hợp với hướng dẫn tại Thông tư 111/2013/TT-BTC .

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2013.

Download công văn tại đây

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2013

Công văn Thuế hướng dẫn thuế môn bài, lãi vay cá nhân và thuế tài nguyên

1. Công văn 1213 ngày 15/04/2013 về giá tính thuế tài nguyên:

Theo đó cơ sở sản xuất kinh doanh khai thác tài nguyên phải kê khai nộp thuế tài nguyên đối với sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ theo giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên ghi trên hóa đơn, chứng từ do đơn vị trực tiếp bán ra; Trường hợp giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên ghi trên hóa đơn, chứng từ thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định thì giá tính thuế tài nguyên theo giá do UBND cấp tỉnh quy định

Download công văn 1213

2. Công văn 1263 ngày 18/04/2013 về thuế môn bài đơn vị tạm ngừng kinh doanh:

Đối với NNT thông báo tạm ngừng kinh doanh cả năm dương lịch thì không kê khai nộp thuế môn bài đối với năm đó
Nếu NNT ra kinh doanh trước thời hạn trong 6 tháng đầu năm thì nộp thuế môn bài cả năm, nếu ra kinh doanh trong 6 tháng cuối năm thì nộp 50% thuế môn bài cả năm.

Download công văn 1263

3. Công văn 1270 ngày 18/04/2013 về thuế TNCN với lãi cho vay:
Kể từ ngày 01/01/2009 các khoản lãi vay mà Công ty trả cho cá nhân là khoản thu nhập từ đầu tư vốn phải chịu thuế TNCN. Trường hợp Công ty chuyển toàn bộ khoản lãi vay thành khoản vay dài hạn với cá nhân thì Công ty sẽ tính và khấu trừ thuế TNCN trước khi chuyển khoản lãi vay này thành khoản vay dài hạn

Download công văn 1270

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

TT 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 hướng dẫn chế độ Quản Lý,Sử Dụng Và Trích Khấu Hao Tài Sản Cố Định.

Một số lưu ý trong Thông Tư:

QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

Điều 3. Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định:

1. Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:

a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

b) Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;

c) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.

Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập.

Đối với súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một TSCĐ hữu hình.

Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây, hoặc cây thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình.

2. Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định vô hình:

Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, mà không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình.

Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả ba tiêu chuẩn nêu tại khoản 1 Điều 3 Thông tư này thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.

..............................vv....

Điều 14. Hiệu lực thi hành:

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/06/2013 và áp dụng từ năm tài chính năm 2013.

2. Thông tư này thay thế Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Kể từ năm tính thuế 2013, tiết k điểm 2.2 khoản 2 Điều 6 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được thực hiện theo quy định sửa đổi, bổ sung sau:

“k) Quyền sử dụng đất lâu dài không được trích khấu hao và phân bổ vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; quyền sử dụng đất có thời hạn nếu có đầy đủ hoá đơn chứng từ và thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật, có tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì được phân bổ dần vào chi phí được trừ theo thời hạn được phép sử dụng đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất giao có thu tiền có thời hạn được trích khấu hao để tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp”.

3. Trường hợp các cá nhân kinh doanh có TSCĐ đáp ứng đầy đủ các quy định về quản lý tài sản cố định tại Thông tư này thì được trích khấu hao tài sản cố định để xác định chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân.

4. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để được giải quyết kịp thời./.

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

“Lệch pha” kiểm toán ngày càng nhiều

Sai số gần hết BCTC

CTCP Than Vàng Danh - Vinacomin (TVD) vừa công bố BCTC đã được kiểm toán năm 2012. Theo đó, ghi nhận lợi nhuận sau thuế sau khi kiểm toán là 57,4 tỷ đồng, tăng 45,8 tỷ đồng so với 11,6 tỷ đồng trước khi kiểm toán (mức chênh lệch trước và sau kiểm toán gần 5 lần).

Tổng CTCP Dung dịch khoan và Hóa phẩm dầu khí (PVC) thông báo báo cáo kiểm toán hợp nhất năm 2012. Theo đó, lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán tăng gần 50 tỷ đồng so với trước kiểm toán lên 271,63 tỷ đồng. Một doanh nghiệp dầu khí khác cũng có sự chênh lệch lớn trước và sau kiểm toán là Tổng CTCP Dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PVS).

Cụ thể, so với BCTC do doanh nghiệp tự lập và BCTC đã kiểm toán thì doanh thu thuần tăng 97,6 tỷ đồng. Cùng với những thay đổi trong các khoản chi phí và doanh thu, lãi ròng của doanh nghiệp tăng thêm 46 tỷ đồng.

Tổng CTCP Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VNR) cũng vừa công bố BCTC 2012 sau kiểm toán. Ngược lại, so với các công ty nêu trên, so với BCTC trước kiểm toán, phần lợi nhuận sau thuế dành cho cổ đông công ty mẹ của VNR năm 2012 giảm 75 tỷ đồng, chỉ còn 255,8 tỷ đồng.

Nguyên nhân chủ yếu do khoản doanh thu hoạt động tài chính sau kiểm toán được ghi nhận chỉ với 304,4 tỷ đồng, trong khi trước đó VNR ghi nhận 379,4 tỷ đồng.


Doanh nghiệp có sự chênh lệch cả về con số lẫn khoản mục trước và sau kiểm toán lớn nhất tính đến thời điểm hiện nay là CTCP Nhiệt điện Phả Lại (PPC). Theo BCTC hợp nhất sau kiểm toán vừa được PPC công bố, gần như phần lớn các khoản mục chính của BCTC đều có sai số.

Các khoản mục sai số có thể kể là: các khoản phải thu ngắn hạn tăng 28,4 tỷ đồng; các khoản đầu tư tài chính dài hạn giảm 15,6 tỷ đồng; nợ ngắn hạn tăng 5,5 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu tăng 7,3 tỷ đồng; doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng 5,1 tỷ đồng; lợi nhuận gộp về bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ tăng 5,1 tỷ đồng; chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 261 triệu đồng; thu nhập khác tăng 20,8 tỷ đồng; phát sinh lỗ trong công ty liên doanh, liên kết là 15,6 tỷ đồng; tổng lợi nhuận kế toán trước thuế tăng 10 tỷ đồng; chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tăng 5,5 tỷ đồng; chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại tăng 116,7 tỷ đồng.

Tổng hợp các ảnh hưởng này đã làm cho lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp giảm 112,2 tỷ đồng.

Kẽ hở chuẩn mực kế toán?

Giải trình về sự chênh lệch của BCTC, ông Nguyễn Văn Trịnh, Chủ tịch HĐQT của TVD, cho rằng thực hiện theo Thông tư 52/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK, thì TVD phải công bố BCTC quý trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày kết thúc quý.

Do đó, để đáp ứng quy định, TVD đã tiến hành lập và nộp BCTC quý IV-2012 vào ngày 19-1-2013. Trong khi đó, TVD là công ty con của Tập đoàn Công nghiệp than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), nên sau khi kết thúc năm doanh nghiệp phải làm các thủ tục để nghiệm thu khối lượng mỏ và quyết toán chi phí với TKV.

Tại thời điểm lập báo cáo tài chính quý IV-2012, TVD chưa triển khai nghiệm thu khối lượng và quyết toán chi phí với TKV được. Chính vì vậy, số liệu trên BCTC do TVD tự lập sẽ có sự chênh lệch với BCTC sau kiểm toán.

Theo ông Tôn Anh Thi, Tổng giám đốc PVC, tình trạng chênh lệch lớn trước và sau kiểm toán là do doanh nghiệp được ghi nhận tăng thêm lợi nhuận sau thuế trên BCTC hợp nhất công ty con sau kiểm toán (Công ty TNHH Dung dịch khoan M-I Việt Nam).

Ngoài ra, phần giảm lợi nhuận chưa thực hiện từ các giao dịch mua bán hàng và cung cấp dịch vụ của các đơn vị thành viên hơn 33 tỷ đồng khiến phần lợi nhuận tăng tương ứng. Trong khi đó, theo giải trình của VNR, nếu áp dụng ghi nhận chênh lệch tỷ giá theo VAS10, số dư lợi nhuận chưa phân phối tại ngày 1-1-2012 sẽ tăng 32,3 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế cho năm tài chính kế thúc ngày 31-12-2012 sẽ giảm tương ứng.

Nếu vậy, khoản mục “chênh lệch tỷ giá hối đoái” được phản ánh trong mục “vốn chủ sở hữu” trên bảng cân đối kế toán tại ngày 1-1-2012 sẽ không có số dư. Chính vì vậy, ban lãnh đạo doanh nghiệp đã quyết định áp dụng việc ghi nhận chênh lệch tỷ giá theo hướng dẫn tại Thông tư 179 và tin tưởng việc áp dụng đó cùng với việc đồng thời công bố đầy đủ thông tin về sự khác biệt trong trường hợp áp dụng theo hướng dẫn VAS10 sẽ cung cấp đầy đủ hơn các thông tin cho người sử dụng BCTC hợp nhất.

Theo thống kê đến thời điểm hiện nay, có hơn 30 doanh nghiệp niêm yết có BCTC lệch pha trước và sau kiểm toán. Hiện tượng số doanh nghiệp có sai sót ngày càng gia tăng do chưa có chế tài đối với các hành vi này dù nhiều chuyên gia đã lên tiếng cảnh báo.

Theo nhận định của các chuyên gia, chênh lệch BCTC trước và sau kiểm toán của doanh nghiệp có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Vấn đề là các nguyên nhân này rất khó nhận biết và ngay cả cơ quan quản lý rất khó phân biệt được do các chuẩn mực kế toán và kiểm toán của Việt Nam vẫn còn nhiều kẽ hở.

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

Tổng hợp luận văn các ngành kinh tế

Các bạn vào đây đăng ký thành viên và download free nhé:
http://accvietnam.net/forum/forumdisplay.php/32-Tai-lieu-De-thi-Luan-van.html

1. Luận văn tốt nghiệp ngành Bảo hiểm
Part 1 | Part 2

2. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh doanh quốc tế
Part 1 | Part 2

3. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế đầu tư
Part 1 | Part 2

4. Luận văn tốt nghiệp ngành Marketing
Part 1 | Part 2

5. Luận văn tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh
Part 1 | Part 2 | Part 3 | Part 4 | Part 5

6. Luận văn tốt nghiệp ngành Tài chính - Ngân hàng
Part 1 | Part 2 | Part 3 | Part 4

7. Luận văn tốt nghiệp ngành Thương mại
Part 1 | Part 2 | Part 3

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Hạch toán cổ phiếu thưởng sao cho đúng?

Hiện tại các Công ty cổ phần đang quyết định chia cổ tức, trong đó có việc chia cổ tức bằng cổ phiếu và thưởng bằng cổ phiếu. Bài viết này giúp độc giả thấy rõ bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu và đưa ra hướng xử lý kế toán đối với các bên liên quan

Bản chất của cổ phiếu thưởng

Cổ phiếu được chia theo cổ tức thường được gọi là cổ phiếu thưởng. Cổ phiếu thưởng không được coi là cổ tức thực sự bởi vì cổ tức này không được thanh toán bằng tiền. Việc chia cổ tức bằng cổ phiếu chỉ làm tăng đến số lượng cổ phiếu lưu hành mà các cổ đông nắm giữ. Chính vì thế, về bản chất, nó làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu sau khi chia.

Thông thường cổ phiếu thưởng được chia theo một tỷ lệ nhất định. Ví dụ: Đại hội đồng cổ đông Công ty Cổ phần TT nhất trí chia toàn bộ cổ tức bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 5:1. Điều đó có nghĩa là cổ đông nắm giữ 05 cổ phiếu cũ sẽ được “thưởng” 01 cổ phiếu mới phát hành, và tổng số cổ phiếu lưu hành sẽ tăng lên 20%. Khi đó chúng ta có thể thấy kết quả của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu có thể dẫn đến giá trị của mỗi cổ phiếu giảm 20% do tổng giá trị vốn chủ sở hữu không thay đổi.

Xử lý kế toán

Cổ phiếu thưởng làm tăng số lượng cố phiếu lưu hành và làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu. Tuy nhiên, xử lý kế toán lại không giống nhau trong mọi trường hợp, và phụ thuộc vào yếu tố giá trị của cổ phiếu thưởng, có nghĩa là tỷ lệ chia. Theo thông lệ, khi tỷ lệ cổ phiếu thưởng nhỏ vào khoảng 20% - 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ. Xử lý kế toán trong trường hợp này sẽ được minh hoạ bởi ví dụ dưới đây. Những trường hợp tỷ lệ cổ phiếu thưởng lớn hơn 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng lớn, và trường hợp này ít xảy ra. Một ví dụ điển hình của phát hành cổ phiếu thưởng lớn là vào 1973, hãng Walt Diney công bố tỷ lệ cổ phiếu thưởng 100%, có nghĩa là cứ 01 cổ phiếu nắm giữ sẽ được nhận thêm 01 cổ phiếu mới và như thế số lượng cổ phiếu lưu hành tăng lên gấp đôi. Điều đó dẫn đến giá trị cổ phiếu bị “loãng”, làm cho giá thị trường của cổ phiếu bị sụt giảm lớn.



Ví dụ minh hoạ trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ:

Công ty ABC có 100.000 cổ phiếu lưu hành với mệnh giá $1,00 và với giá thị trường là 6,60$. Như vậy tổng giá trị thị trường của ABC là 100.000 x $6,60 = $660.000.

Báo cáo tài chính ngày 31/12/XX của ABC có số liệu như sau:

- Vốn cổ phần thường lưu hành (100.000 cổ phiếu) $100.000

- Lợi nhuận chưa phân phối $200.000

Tổng vốn chủ sở hữu $300.000

Đại hội đồng cổ đông của ABC quyết định chia toàn bộ lợi nhuận bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 10:1. Có nghĩa là sẽ phát hành 10.000 cổ phiếu mới. Sau khi chia, ABC sẽ có tổng cộng 110.000 cổ phiếu lưu hành.
Giá trị cổ phiếu mới phát hành là: $200.000 : 10.000 = $20

Giá trị cổ phiếu mới phát hành theo mệnh giá là: $1,00 x 10.000 = $10.000

Chênh lệch giữa giá trị cổ phiếu theo giá phát hành và theo mệnh giá = $200.000 - $10.000 = $190.000

Sau khi chia cổ phiếu thưởng Báo cáo tài chính của ABC có số liệu như sau:

- Vốn cổ phần thường lưu hành (110.000 cổ phiếu) $100.000 + $10.000 = $110.000

- Thặng dư vốn $190.000

Tổng vốn chủ sở hữu $300.000

Theo như ví dụ trên thì giá trị cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ sau khi được chia sẽ không thay đổi so với trước khi được chia (đều bằng $300.000). Trường hợp này đã ngoại trừ các yếu tố tác động đến giá trị của cổ phiếu trên thị trường như cung - cầu, kỳ vọng của nhà đầu tư,… mà chỉ tập trung đến tác động của việc chia cổ phiếu thưởng.

Tác động đến giá trị thị trường của cổ phiếu

Theo suy luận logic thông thường, cổ phiếu thưởng có thế:

(1) không làm ảnh hưởng đến giá trị của công ty

(2) làm tăng giá trị của công ty

(3) làm giảm giá trị của công ty

Quan niệm chuẩn về cổ phiếu thưởng là nó không làm thay đổi giá trị tài sản của nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp. Theo ví dụ trên, giá trị thị trường của ABC là $660.000. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, số cổ phiếu lưu hành là 110.000 cổ phiếu, và mỗi cổ phiếu có thế có giá trị là $660.000 : 110.000 = $6,00.

Trường hợp một cổ đông năm giữ 1000 cổ phiếu trước khi chia, có giá $6.600. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, cổ đông đó có 1.100 cổ phiếu và tổng giá trị của nó có thể sẽ là 1.100 x $6,00 = $6.600. Như vậy, cổ phiếu thưởng, thực chất, không có ảnh hưởng về mặt kinh tế. Và trên lý thuyết, việc xác định tỷ lệ chia càng cao thì giá trị cổ phiếu càng giảm và sẽ ảnh hưởng đến giá trị thị trường của số cổ phiếu ban đầu mà cổ đông nắm giữ.

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Kế toán nghiệp vụ sử dụng sản phẩm, hàng hóa cho tiêu dùng nội bộ

Theo qui định hiện hành của pháp luật thuếgiá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thì khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa cho tiêu dùng nội bộ (gọi tắt là hàng tiêu dùng nội bộ) thì doanh nghiệp phải tính, kê khai và nộp cả thuế GTGT và thuế TNDN mặc dù nghiệp vụ này không phát sinh lợi nhuận theo qui định của chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp. Nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa cho tiêu dùng nội bộ sẽ phát sinh một khoản chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế TNDN và lợi nhuận kế toán do sự khác biệt về quan điểm ghi nhận giữa pháp luật về thuế TNDN và chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp. Trên thực tế kế toán thuế GTGT và thuếTNDN nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ chưa thực hiện đúng ở khá nhiều doanh nghiệp do chưa cập nhật kịp thời các qui định về thuế và kế toán. Tác giả xin được trình bày các qui định hiện hành và phân tích rõ để giúp các doanh nghiệp và những người quan tâm hiểu đúng để triển khai tốt các vấn đề trên, cụ thể như sau:

1. Về thuế GTGT đối với hàng tiêu dùng nội bộ và hàng luân chuyển nội bộ

Theo Thông tư Số 129 /2008/TT- BTC ngày 26/12/ 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/ 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT (sau đây gọi tắt là Thông tư số 129) thì: Đối với sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ thì doanh nghiệp phải tính, nộp thuế GTGT và giá tính thuế GTGT của sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ là giá tính thuế GTGT của sản phẩm, hàng hóa cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các nghiệp vụ này. Ngược lại, đối với sản phẩm, hàng hóa luân chuyển nội bộ (gọi tắt là hàng luân chuyển nội bộ) thì doanh nghiệp không phải tính, kê khai, nộp thuế GTGT.

Thông tư số 129 qui định để phân biệt rõ sự khác nhau giữa hàng tiêu dùng nội bộ và hàng luân chuyển nội bộ, cụ thể như sau: (1) Hàng tiêu dùng nội bộ là sản phẩm, hàng hóa do doanh nghiệp xuất sử dụng cho tiêu dùng của doanh nghiệp, không bao gồm sản phẩm, hàng hóa sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; (2) hàng luân chuyển nội bộ bao gồm sản phẩm, hàng hoá luân chuyển nội bộ như xuất sản phẩm, hàng hoá để chuyển kho nội bộ; xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong doanh nghiệp.

Ví dụ 1: Doanh nghiệp A sản xuất quạt điện, dùng 5 sản phẩm quạt lắp vào cho bộ phận bán hàng, chi phí sản xuất (giá thành thực tế) của 1 chiếc quạt là 0,4 triệu đồng/1chiếc, giá bán (chưa có thuế GTGT) của loại quạt này là 0,5 triệu đồng/1chiếc. Thuế GTGT đầu ra là 10% phải nộp tính trên số quạt xuất tiêu dùng nội bộ là:

0,5 triệu đồng/1chiếc x 5 chiếc x 10% = 2,5 triệu đồng.

Với ví dụ trên:

- Nếu doanh nghiệp A nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ khi xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh nghiệp A phải lập Hoá đơn GTGT, trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng. Tuy nhiên do doanh nghiệp A xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD là hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượngchịu thuế GTGT nên số thuế GTGT đầu ra phải nộp tính trên số quạt xuất tiêu dùng nội bộ lại được khấu trừ.

- Nếu doanh nghiệp A nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ khi xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh nghiệp A phải lập Hoá đơn GTGT, trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, trường hợp này doanh nghiệp Aphải tính nộp thuế GTGT và số thuế GTGT phải nộp của sản phẩm sử dụng nội bộ tính vào chi phí SXKD (vì doanh nghiệp A xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT).

Ví dụ 2: Doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc B có phân xưởng sợi và phân xưởng may. Doanh nghiệp B xuất sợi thành phẩm từ phân xưởng sợi cho phân xưởng may để tiếp tục quá trình sản xuất thì doanh nghiệp B không phải tính và nộp thuế GTGT đối với sợi xuất cho phân xưởng may.

Ví dụ 3: Doanh nghiệp C vừa có hoạt động sản xuất thức ăn gia súc vừa có hoạt động trực tiếp chăn nuôi gia súc. Thức ăn gia súc sản xuất ra một phần sử dụng để bán ra chịu thuế GTGT và một phần tiếp tục sử dụng cho hoạt động chăn nuôi gia súc thì doanh nghiệp C không phải tính và nộp thuế GTGT đối với số thức ăn gia súc phục vụ hoạt động chăn nuôi không chịu thuế GTGT. Số thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất thức ăn gia súc được khấu trừ được phân bổ theo tỷ lệ doanh thu bán thức ăn gia súc trên tổng số doanh thu bán thức ăn gia súc và doanh thu bán gia súc.

2. Về thuế TNDN đối với hàng tiêu dùng nội bộ

Theo Thông tư Số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ CP ngày 11/12/ 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNDN­­­­­­ thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm tiêu dùng nội bộ.

Với Ví dụ 1 nêu trên, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế khi xác định thuế TNDN phải nộp được tính theo giá bán (chưa có thuế GTGT) của loại quạt này tại thời điểm tiêu dùng nội bộ là 0,5 triệu đồng/chiếc.

3. Về phương pháp kế toán đối với nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ

Thứ nhất, theo qui định của chuẩn mực, chế độ kế toán khi doanh nghiệp xuất kho sản phẩm, hàng hóa để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì đều không phát sinh lãi, lỗ. Khi xuất kho sản phẩm, hàng hóa phục vụ hoạt động SXKD thì giá trị sản phẩm, hàng hóa được tính vào chi phí SXKD theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn sản phẩm, hàng hoá. Đối với TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế, theo chuẩn mực kế toán số 03 – Tài sản cố định hữu hình (đoạn 18) thì nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế là giá thành thực tế của TSCĐ tự xây dựng, hoặc tự chế cộng (+) chi phí lắp đặt, chạy thử. Trường hợp doanh nghiệp dùng sản phẩm do mình sản xuất ra để chuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó cộng (+) các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Trong các trường hợp trên, mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên giá của các tài sản đó.

Thứ hai, về phương pháp kế toán đối với nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ (theo qui định của Thông tư 244/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán doanh nghiệp), cụ thể như sau:

(1). Trường hợp xuất kho sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, doanh nghiệp phải lập Hoá đơn GTGT làm chứng từ hạch toán. Trường hợp này doanh nghiệp phải tính, nộp thuế GTGT:

- Khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ, ghi:

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán

Có các TK 155, 156.

- Đồng thời ghi doanh thu bán hàng nội bộ:

Nợ các TK 621, 627, 641, 642,... (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Nợ các TK 154, 642,... (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Nếu sản phẩm, hàng hóa xuất sử dụng cho hoạt động SXKD)

Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nếu sản phẩm sản xuất xong được chuyển thành TSCĐ sử dụng cho SXKD)

Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (Chi tiết doanh thu bán hàng nội bộ) (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá)

- Đồng thời phản ánh số thuế GTGT đầu ra cho sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ được khấu trừ, ghi:

Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 333 (33311)(Thuế GTGT)


Theo ví dụ 1, khi xuất kho quạt để tiêu dùng nội bộ, kế toán doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi:

Nợ TK 632: 2 triệu đồng

Có TK 155: 2 triệu đồng (5 chiếc x 0,4 triệu đồng/1 chiếc)

Đồng thời ghi doanh thu bán hàng nội bộ:

Nợ TK 641: 2 triệu đồng

Có TK 512: 2 triệu đồng

Đồng thời phản ánh số thuế GTGT đầu ra cho sản phẩm tiêu dùng nội bộ được khấu trừ, ghi:

Nợ TK 133: 0,25 triệu đồng (5 chiếc quạt x 0,5 triệu đồng/1chiếc)

Có TK 333 (33311): 0,25 triệu đồng.

Chú ý:

- Kế toán phải ghi đồng thời 2 bút toán phản ánh giá vốn hàng bán và doanh thu bán hàng nội bộ, trong đó doanh thu bán hàng nội bộ ghi Có TK 512 theo chi phí sản xuất sản phẩm là 2 triệu đồng nên không phát sinh lãi, lỗ theo qui định của chuẩn mực, chế độkế toán trong nghiệp vụ này.

- Khi tính, kê khai và xác định thuế GTGT và thuế TNDN phải nộp, doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu để tính thu nhập chịu thuế TNDN được tính theo giá bán (chưa có thuế GTGT) của loại quạt này trên thị trường tại thời điểm tiêu dùng nội bộ là 2,5 triệu đồng/1 chiếc, giá vốn hàng tiêu dùng nội bộ là 2 triệu đồng và thu nhập chịu thuế TNDN là 0,5 triệu đồng.

(2). Trường hợp xuất kho sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho nghiệp vụ SXKD hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp, trường hợp này doanh nghiệp phải tính nộp thuế GTGT và số thuế GTGT phải nộp của sản phẩm, hàng hoá sử dụng nội bộ tính vào chi phí SXKD:


- Khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ, ghi:

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán

Có các TK 155, 156.

- Đồng thời ghi nhận doanh thu bán hàng nội bộ, ghi:

Nợ các TK 621, 627, 641, 642,...(Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (Chi tiết doanh thu bán hàng nội bộ) (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá cộng (+) với thuế GTGT của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN); hoặc

Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nếu sản phẩm sản xuất xong được chuyển thành TSCĐ sử dụng cho SXKD) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm cộng (+) với thuế GTGT của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN)

Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (33311) (Thuế GTGT của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN)

Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (Chi tiết doanh thu bán hàng nội bộ) (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá)

Tuy nhiên các qui định về thuế GTGT và thuế TNDN đối với nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ như đã nêu trên còn có những điểm chưa hợp lý đó là: (1) Nguồn thu ngân sách tăng không đáng kể vì NSNN chỉ thu được khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp. Còn trường hợp phát sinh phổ biến trong các doanh nghiệp hiện nay là xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, thì số thuế GTGT đầu ra của sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ lại được khấu trừ toàn bộ; (2) Làm tăng khối lượng công việc do phải kế toán và kê khai, tính và nộp thuế GTGT và thuế TNDN, đồng thời trên thực tế khó phân biệt hàng tiêu dùng nội bộ thì phải tính, nộp thuế GTGT và thuế TNDN với hàng luân chuyển nội bộ thì không phải tính, nộp thuế GTGT và thuế TNDN; (3) Không phản ánh đúng bản chất của thuế TNDN, vì hoạt động này không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp nên thuế TNDN phải nộp khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa để tiêu dùng nội bộ sẽ làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Các điểm bất hợp lý trên Nhà nước cần sớm nghiên cứu bổ sung, sửa đổi các qui định trên cho phù hợp theo hướng như đã qui định trước đây đó là khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa để tiêu dùng nội bộ doanh nghiệp không phải kê khai, tính và nộp thuế GTGT và thuế TNDN. Từ đó giảm bớt sự khác biệt về quan điểm ghi nhận giữa pháp luật về thuế TNDN và chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp./.

(Theo VACPA)

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

Phân biệt kế toán quản trị, kế toán tài chính

Nguồn: Viện Quản lý Châu Á

Quan điểm của nhiều chuyên gia kế toán cho rằng, kế toán trong nền kinh tế thị trường được phân chia thành bốn bộ phận: lý thuyết hạch toán kế toán, kế toán tài chính, kế toán quản trị và kiểm toán.

Trong đó, kế toán quản trị và kế toán tài chính được coi là bộ phận hữu cơ của kế toán doanh nghiệp. Kế toán quản trị và kế toán tài chính là gì?. Hai loại kế toán này có mối quan hệ với nhau như thế nào?. Kế toán tài chính có phải là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị có phải là kế toán chi tiết hay không?

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về kế toán tài chính và kế toán quản trị, để cùng các bạn và những người quan tâm về khoa học kế toán hiểu rõ bản chất và mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán tôi xin trao đổi vài nét về vấn đề này.

1. Định nghĩa kế toán quản trị và kế toán tài chính

Kế toán được định nghĩa là một hệ thống thông tin đo lường, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó kế toán quản trị đưa ra tất cả các thông tin kinh tế đã được đo lường xử lý và cung cấp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác kế toán quản trị giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp cân nhắc và quyết định lựa chọn một trong những phương án có hiệu quả kinh tế cao nhất: phải sản xuất những sản phẩm nào, sản xuất bằng cách nào, bán các sản phẩm đó bằng cách nào, theo giá nào, làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát triển khả năng sản xuất.

Các quyết định này gồm hai loại: Quyết định mang tính chất ngắn hạn: Các quyết định này giúp doanh nghiệp giải quyết các bài toán kinh tế trong thời kỳ ngắn hạn. Ví dụ: – Trong trường hợp nào doanh nghiệp có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn giá ở điểm hoà vốn? – Trong trường hợp nào doanh nghiệp nên tự chế hay đi mua một vài bộ phận của sản phẩm? – Trong trường hợp nào doanh nghiệp nên bán ra bán thành phẩm thay vì tiếp tục hoàn thiện thành sản phẩm cuối cùng? Quyết định mang tính dài hạn: Các quyết định này giúp doanh nghiệp giải quyết các bàii toán kinh tế hoạch định chiến lược đầu tư dài hạn như: Trong trường hợp nào doanh nghiệp quyết định thay thế mua sắm thêm các máy móc thiết bị hay thực hiện phát triển thêm lĩnh vực kinh doanh. Còn kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay nói cách khác là phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài. Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo cáo tài chính. Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được sử dụng để cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như: Các nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê.

2. Để hiễu rõ được mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính ta cần phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

2.1. Sự giống nhau

* Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin kế toán, đều nhằm vào việc phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đều quan tâm đến doanh thu, chi phí và sự vận động của tài sản, tiền vốn.

* Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ về số liệu thông tin. Các số liệu của kế toán tài chính và kế toán quản trị đều được xuất phát từ chứng từ gốc. Một bên phản ánh thông tin tổng quát, một bên phản ánh thông tin chi tiết.

* Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ trách nhiệm của Nhà quản lý.

2.2. Sự khác nhau

* Mục đích:

- Kế toán quản trị có mục đích: Cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. – Kế toán tài chính: Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính.

* Đối tượng phục vụ:

- Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là: Các nhà quản lý doanh nghiệp (Hội đồng quản trị, ban giám đốc)

- Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê)

* Đặc điểm của thông tin:

- Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau. Thông tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng các kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật. Ví dụ: Kế toán vật tư ngoài việc theo dõi giá trị của vật tư còn phải theo dõi số lượng vật tư.

- Kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được. Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị.

* Nguyên tắc cung cấp thông tin:

- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp.

- Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến, nói cách khác kế toán tài chính phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc.

* Phạm vi của thông tin:

- Phạm vi thông tin của kế toán quản trị liên quan đến việc quản lý trên từng bộ phận (phân xưởng, phòng ban) cho đến từng cá nhân có liên quan.

- Phạm vi thông tin của kế toán tài chính liên quan đến việc quản lý tài chính trên quy mô toàn doanh nghiệp.

* Kỳ báo cáo:

- Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần, ngày. – Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm

* Quan hệ với các môn khoa học khác:

Kế toán tài chính ít có mối quan hệ với các môn khoa học khác. Do thông tin kế toán quản trị được cung cấp để phục vụ cho chức năng quản lý, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán tài chính thì kế toán quản trị còn phải kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa học khác như: Kinh tế học, thống kê kinh tế, tổ chức quản lý doanh nghiệp, quản trị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin.

* Tính bắt buộc theo luật định:

- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc.

- Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định. Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định có nghĩa là sổ sách báo cáo của kế toán tài chính ở mọi doanh nghiệp đều phải bắt buộc thống nhất, nếu không đúng hoặc không hạch toán đúng chế độ thì báo cáo đó sẽ không được chấp nhận (tham khảo thêm về luật kế toán vừa ban hành).

3. Có phải kế toán tài chính là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị là kế toán chi tiết không?

Để hiểu rõ và tránh nhầm lẫn về các “thuật ngữ” trên ta cần phân tích mối quan hệ giữa kế toán tài chính với kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết. Kế toán tài chính và kế toán tổng hợp: Kế toán tổng hợp là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằn trình bày các số liệu báo cáo mang tính tổng hợp về tình hình tài sản, doanh thu chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán vào một thời điểm nhất định. Nói cách khác kế toán tổng hợp chỉ liên quan đến tài khoản của sổ cái tổng hợp và báo cáo tài chính.

Kế toán tài chính và kế toán chi tiết: Kế toán chi tiết là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm chứng minh các số liệu ghi trong tài khoản tổng hợp là đúng trong quá trình ghi chép và lập báo cáo kế toán, đây cũng là công việc phải làm trước khi khoá sổ kế toán để quyết toán.

Thuật ngữ thông thường gọi là đối chiếu giữa tổng hợp và chi tiết. Ví dụ: Như việc thực hiện đối chiếu giữa tài khoản phải thu với sổ công nợ chi tiết của từng khách hàng, đối chiếu tài khoản phải trả với sổ chi tiết công nợ của từng nhà cung cấp hay việc đối chiếu tài khoản nguyên vật liệu với sổ chi tiết vật tư, đối chiếu tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh dở dang với thẻ chi tiết tính giá thành sản phẩm.

Tóm lại trong kế toán tài chính bao giờ cũng có kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, vì vậy kế toán tài chính không phải là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị không phải là kế toán chi tiết.

Phân biệt Chi phí cơ hội và Chi phí chìm trong kế toán quản trị

1. Chi phí cơ hội 

       Trong hoạt động kinh doanh, bất kỳ một khoản mục chi phí nào phát sinh đều được phản ánh và theo dõi trên các sổ sách kế toán. Tuy nhiên, có một loại chi phí hoàn toàn không được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng, cần được xem xét đến mỗi khi nhà quản lý lựa chọn các phương án kinh doanh, đầu tư. Đó là chi phí cơ hội (opportunity costs). Chi phí cơ hội được định nghĩa là lợi ích (lợi nhuận) tiềm tàng bị mất đi khi chọn một phương án này thay vì chọn phương án khác.

       Thí dụ: Giả sử một người có số vốn là 100 triệu. Người này quyết định mở một cửa hàng bách hóa. Lợi nhuận hàng năm thu được từ cửa hàng là 20 triệu đồng. Nếu như người này không mở cửa hàng mà đem số tiền gửi vào ngân hàng thì anh ta sẽ thu được số tiền lãi là 15 triệu đồng/năm (tương đương lãi suất 15%/năm). Như vậy, số tiền 15 triệu đồng chính là chi phí cơ hội mà người này phải tính đến khi quyết định mở cửa hàng bách hóa để kinh doanh.

2. Chi phí chìm 

       Chi phí chìm là những chi phí đã phát sinh do quyết định trong quá khứ. Doanh nghiệp phải chịu chi phí này cho dù bất kỳ phương án nào được chọn. Vì vậy, trong việc lựa chọn các phương án khác nhau, chi phí này không được đưa vào xem xét, nó không thích hợp cho việc ra quyết định.

       Thí dụ: Một trạm thủy điện đã được dự kiến xây dựng với tổng chi phí là 200 tỷ đồng, trong đó đã chi 50 tỷ đồng. Giờ đây, chúng ta tìm được phương án xây dựng một trạm nhiệt điện có cùng công suất với trạm thủy điện, nhưng chi phí chỉ là 160 tỷ. Vậy, phải lựa chọn phương án nào với giả thiết rằng chi phí trong tương lai là giống nhau. Trong trường hợp này, chi phí 50 tỷ đồng là chi phí chìm, do đó không được đưa vào xem xét khi ta quyết định xây dựng trạm nhiệt điện hay tiếp tục xây dựng trạm thủy điện. Như thế, nếu chọn phương án xây dựng trạm nhiệt điện thì chúng ta sẽ chi 160 tỷ đồng, còn phương án tiếp tục xây dựng trạm thủy điện thì chúng ta phải chi tiếp 150 tỷ. Vì vậy, phương án tiếp tục xây dựng trạm nhiệt điện sẽ được lựa chọn vì tổng chi phí là 200 tỷ bé hơn tổng chi phí khi chọn phương án xây dựng trạm nhiệt điện 210 tỷ đồng (cả 2 phương án đều gánh chịu 50 tỷ đã chi trong quá khứ ) (Phạm Phụ, 1993)

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

Tuyển tập đề thi vào các Ngân hàng

Mình xin giới thiệu một số tài liệu về Ngân hàng để các bạn tham khảo:

1. Tuyển tập đề thi vào các Ngân hàng (vị trí Tín dụng, Kế toán, Thanh toán quốc tế)

2. Cách lấy số liệu để lên BCTC của Ngân hàng

3. Hệ thống tài khoản kế toán Ngân hàng





Quy định về xử phạt vi phạm hành chính quá thời hạn mở tờ khai hải quan

Hỏi: 
Công ty tôi có NK lô hàng 500 kg chocolate từ Trung Quốc về Việt Nam. Theo hợp đồng, lô hàng sẽ được giao ở cảng Cát Lái (TP.HCM). Tuy nhiên do nhầm lẫn của hãng tàu nên lô hàng được chuyển về cảng Hải Phòng (đến cảng ngày 19-3). Ngày 23-4, Công ty mở tờ khai để NK lô hàng trên tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng KV II. Quá trình làm thủ tục, DN được công chức hải quan thông báo, do lô hàng chậm mở tờ khai và chậm nộp giấy phép nên DN sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. DN thắc mắc hành vi và mức xử phạt như thông báo của công chức hải quan có chính xác?

Trả lời:
Liên quan đến vướng mắc của công ty, ngày 27-4, Báo Hải quan đã trao đổi với lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng KV II.

Theo lãnh đạo Chi cục, ngày 19-3, lô hàng của Công ty Phương Huỳnh về đến cảng Hải Phòng. Ngày 23-4, Công ty mới tiến hành mở tờ khai (số 5391) và nộp giấy phép NK.

Trường hợp này, DN đã vi phạm 2 nội dung theo quy định của Luật Hải quan và Nghị định 97/2007/NĐ-CP năm 2007 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định 18/2009/NĐ-CP năm 2009 của Chính phủ).

Vi phạm thứ nhất “về thời hạn mở tờ khai hải quan”, Điều 18, Luật Hải quan năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2005) quy định “Người khai hải quan khai và nộp tờ khai hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải trong thời hạn sau đây: Hàng hóa NK được thực hiện trước ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu; tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đăng kí...”.

Do đó, trường hợp hàng về đến cửa khẩu từ ngày 19-3 nhưng đến ngày 23-4, DN mới mở tờ khai là đã vi phạm quy định về thời hạn mở tờ khai (quá 30 ngày).

Căn cứ Khoản 1, Điều 8, Nghị định Nghị định 97, quy định việc xử lí vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan, thì hành vi “vi phạm quy định về thời hạn làm thủ tục hải quan, nộp hồ sơ thuế” (như của Công ty Phương Huỳnh) sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Tìm hiểu nguyên tắc hoạt động liên tục (VSA 570, IFRS 5)

Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01) - Chuẩn mực chung quy định 07 nguyên tắc kế toán cơ bản: Cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng, trọng yếu. Bên cạnh đó Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (VAS 21) – Trình bày Báo cáo tài chính cũng quy định 06 nguyên tắc cơ bản trình Báo báo tài chính (BCTC): Cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ, có thể so sánh.

Theo cả VAS 01 và VAS 21 thì nội dung nguyên tắc hoạt động liên tục là “BCTC phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình. Khi đánh giá nếu Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp biết được có những điều không chắc chắn liên quan tới các sự kiện hoặc các điều kiện có thể gây ra sự nghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp thì những điều không chắc chắn đó cần phải nêu rõ. Nếu BCTC không được lập trên cơ sở hoạt động liên tục, thì sự kiện này cần được nêu rõ, cùng với cơ sở dùng để lập BCTC và lý do khiến doanh nghiệp không được coi là hoạt động liên tục. Đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp, Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp cần phải xem xét đến mọi thông tin có thể dự đoán được tối thiểu trong vòng 1 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán”.

Bên cạnh đó, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 570 (VSA 570) - Hoạt động liên tục tại đoạn 04 có quy định “một đơn vị được coi là hoạt động liên tục trong tương lai gần có thể dự đoán được (ít nhất là 1 năm kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán) khi không có ý định hoặc yêu cầu phải giải thể, ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động, tìm kiếm sự bảo hộ từ các chủ nợ theo pháp luật và các quy định hiện hành”. Về cơ bản có thể nói nội dung nguyên tắc hoạt động liên tục của VAS và VSA đều giống nhau, trong đó VSA có quy định chi tiết, cụ thể hơn.

Hiện tại ở Việt Nam chưa có chuẩn mực kế toán đối với vấn đề này. Chỉ lưu ý KTV khi kiểm toán báo cáo tài chính phải xem xét tính liên tục theo Chuẩn mực kiểm toán:

Đoạn 02 trong VSA 570 có quy định “khi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán cũng như khi đánh giá và trình bày ý kiến nhận xét trong báo cáo kiểm toán (BCKT), KTV và công ty kiểm toán phải luôn xem xét sự phù hợp của giả định “hoạt động liên tục” mà doanh nghiệp đã sử dụng để lập và trình bày Báo cáo tài chính” và tại đoạn 09 “KTV và công ty kiểm toán có trách nhiệm xem xét tính hợp lý của nguyên tắc hoạt động liên tục mà Ban giám đốc đơn vị được kiểm toán đã sử dụng khi lập và trình bày BCTC và xem xét các yếu tố không chắc chắn trọng yếu nào liên quan tới khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán phải được trình bày đầy đủ trên BCTC”.

Dấu hiệu về các sự kiện hoặc điều kiện riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau có thể gây ra sự nghi ngờ đáng kể về sự phù hợp của nguyên tắc hoạt động liên tục có thể phân ra thành ba mặt:

- Về mặt tài chính: Đơn vị lâm vào tình trạng nợ phải trả lớn hơn tài sản lưu động; đơn vị có các khoản nợ phải trả ngắn hạn lớn hơn tài sản lưu động; đơn vị có các khoản nợ dài hạn sắp đến hạn trả mà không có khả năng thanh toán, hoặc đơn vị phụ thuộc quá nhiều vào các các khoản vay ngắn hạn để tài trợ các tài sản dài hạn; dấu hiệu về việc cắt bỏ các hỗ trợ về mặt tài chính của khách hàng và chủ nợ; luồng tiền từ hoạt động kinh doanh bị âm thể hiện trên BCTC hay dự đoán trong tương lai; đơn vị có các chỉ số tài chính xấu dưới mức bình thường; lỗ hoạt động kinh doanh lớn hơn hoặc có sự suy giảm lớn về giá trị của tài sản được dùng để tạo ra các luồng tiền; nợ tồn đọng hoặc ngừng thanh toán cổ tức; không có khả năng thanh toán nợ đến hạn; không có khả năng tuân thủ các điều khoản của hợp đồng tín dụng; chuyển đổi từ các giao dịch mua chịu sang thanh toán ngay với nhà cung cấp; không có khả năng tìm kiếm các nguồn tài trợ cho sự phát triển các sản phẩm mới thiết yếu hoặc các dự án đầu tư thiết yếu...)

- Những biểu hiện về mặt hoạt động (đơn vị bị thiếu thành phần lãnh đạo chủ chốt mà chưa được thay thế; đơn vị bị mất một phần thị trường lớn, mất giấy phép bản quyền hoặc mất một nhà cung cấp quan trọng; đơn vị gặp khó khăn về tuyển dụng lao động hoặc thiếu hụt các nguồn cung cấp quan trọng).

- Những biểu hiện khác (không tuân thủ các quy định về vốn cũng như các quy định về vốn cũng như các quy định khác của pháp luật; đơn vị đang bị kiện và các vụ kiện này chưa được xử lý mà nếu đơn vị thua kiện có thể dẫn đến các khoản bồi thường không có khả năng đáp ứng được; thay đổi về luật pháp hoặc chính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng bất lợi tới đơn vị...)

Hiện tại trên thế giới đã ban hành IFRS 5 thay thế cho IAS 36 yêu cầu về việc trình bày và công bố hoạt động liên tục. Xin tóm lược nội dụng chính:

- Bộ phận kinh doanh hoạt động không liên tục là một bộ phận của doanh nghiệp đã được bán hoặc được phân loại là được nắm giữ và bán và (a) đại diện cho một bộ phận kinh doanh chủ yếu và riêng biệt của doanh nghiệp hoặc một bộ phận theo vùng địa lý, (b) là một phần của kế hoạch thanh lý một bộ phận kinh doanh chủ yếu và riêng biệt hoặc một bộ phận theo vùng địa lý, hoặc (c) là một công ty con được mua chỉ cho mục đích bán lại. 

- Doanh nghiệp được yêu cầu phải trình bày số lợi nhuận hoặc lỗ trong kỳ báo cáo của các bộ phận hoạt động không liên tục trên báo cáo kết quả kinh doanh và lợi nhuận hoặc lỗ từ việc bán các bộ phận hoạt động liên tục (hoặc từ việc xác định lại giá trị tài sản và nợ phải trả của các bộ phận hoạt động không liên tục dưới hình thức nắm giữ để bán). Vì vậy, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được chia thành hai phần: các bộ phận hoạt động liên tục và các bộ phận hoạt động không liên tục./.

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

Công văn Thuế: Thuế TNCN làm việc ngày nghỉ phép, thuê chuyên gia; Thuế TNDN, thuế GTGT khoản bồi thường về đất

1. Công văn 177/TCT-TNCN ngày 15/01/2013 của Tổng cục thuế về khoản tiền lương làm việc trong ngày nghỉ phép năm, theo đó phần thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc vào ngày được nghỉ phép năm, được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ngày thường theo quy định của Bộ Luật Lao động là thu nhập được miễn thuế TNCN

Download công văn 177/TCT-TNCN tại đây


2. Công văn số 4657/TCT-TNCN ngày 26/12/2012 của Tổng cục Thuế về Thuế TNCN đối với thu nhập từ hoạt động dịch vụ đào tạo:

Chi phí vé máy ban đi về giữa Nhật Bản - Việt Nam và chi phí đi lại trong quá trình giảng dạy tại Việt Nam của chuyên gia tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.

Đối với chi phí chỗ ở cho thời gian chuyên gia ở tại Việt Nam: có hóa đơn chứng từ hợp pháp thì tính vào thu nhập chịu thuế TNCN theo số thực tế chi trả nhưng không vượt quá 15% thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công (không bao gồm tiền thuê nhà).

Download công văn 4657.TCT-TNCN tại đây

3. Công văn 4496/TCT-CS ngày 17/12/2012 về chính sách thuế đối với khoản tiền bồi thường về đất

Công ty cổ phần 118 nhận được tiền bồi thường, hỗ trợ về.đất từ Ban Quản lý đầu tư và xây dựng khu đô thị mới Hà Nội do việc thu hồi đất để xây dựng tuyến đường số 4 vào trung tâm khu đô thị mới Tây Hồ Tây thì Công ty không phải kê khai nộp thuế GTGT đối với khoản tiền nhận được này. Về thuế TNDN, Công ty nhận được tiền đền bù về tài sản cố định trên đất và tiền hỗ trợ di dời sau khi trừ các khoản chi phí liên quan như chi phí di dời (chi phí vận chuyển, lắp đặt), giá trị còn lại của tài sản cố định và các chi phí khác (nếu có), Công ty hạch toán phần còn lại vào thu nhập khác và kê khai nộp thuế TNDN theo quy định.

Download Công văn 4496/TCT-CS tại đây

Những điểm mới trong Bộ luật Lao động năm 2012 (hiệu lực từ 01/05/2013)

Bộ luật lao động năm 2012 số 10/2012/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2013 có rất nhiều điểm mới, khác so với Bộ luật cũ. Bản thân tôi đọc BLLĐ 2012 nhận thấy Bộ luật này "bình đẳng" hơn giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Dưới đây là một số điểm mới đáng lưu ý sau khi đọc BLLĐ 2012 này:

- Bỏ điều 19 của BLLĐ cũ: Cấm mọi hành vi dụ dỗ, hứa hẹn và quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm để thực hiện những hành vi trái pháp luật. Nhưng không có nghĩa là Doanh nghiệp được thực hiện những hành vi này, việc bỏ điều này chỉ để không bị chồng chéo với pháp luật Hình sự.

- Bỏ quy định về lập quỹ dự phòng trợ cấp thôi việc: Từ 01/01/2009, Doanh nghiệp và NLĐ tham gia BHTN nên quy định trợ cấp thôi việc là không cần thiết.

- Bổ sung quy định "trực tiếp giao kết hợp đồng lao động": BLLĐ 2012 không cho phép thực hiện ủy quyền ký HĐLĐ với NLĐ, người sử dụng lao động phải trực tiếp giao kết. Quy định này chỉ áp dụng đối với bên sử dụng lao động (khoản 1 điều 18), đối với NLĐ được ủy quyền trong trường hợp công việc theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

- Bổ sung nghĩa vụ cung cấp thông tin: cả NLĐ và NSDLĐ có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho nhau; đây là điểm mới và cần thiết cho quá trình lựa chọn nghề, tuyển chọn lao động (điều 19);

- Cấm NSDLĐ giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng chứng chỉ, thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền/hiện vật;

- Quy định quan trọng đối với việc chuyển hóa Hợp đồng lao động từ mùa vụ sang HĐLĐ 24 tháng nếu HĐLĐ mùa vụ hết thời hạn mà hai bên không giao kết mới và NLĐ tiếp tục làm việc;

- Bổ sung Hợp đồng lao động thêm 02 điều khoản: Quy định về chế độ nâng lương, chế độ đào tạo, bồi dưỡng. Đây là điểm mới rất đáng lưu ý vì sắp tới có thể mẫu HĐLĐ hiện nay sẽ bị thay đổi cho phù hợp với luật. Hàng loạt HĐLĐ đã ký trước đây sẽ phải thay đổi.

- Nâng mức lương thử việc từ 70% lên 85%: NLĐ thử việc sẽ được hưởng mức lương không dưới 85% so với lương chính thức;



- Bổ sung trường hợp tạm hoãn HĐLĐ là NLĐ đi cai nghiện, đưa vào trường giáo dưỡng, phụ nữ có thai theo chỉ định của thầy thuốc;

- Bổ sung các trường hợp chấm dứt HĐLĐ, nâng các trường hợp chấm dứt HĐLĐ lên 10 trường hợp (Điều 36);

- Bổ sung hình thức HĐLĐ không trọn thời gian, đây là điểm còn nhiều vướng mắc cần hướng dẫn;

- Quy định người lao động giúp việc gia đình vẫn phải giao kết HĐLĐ theo quy định của pháp luật;

- Quy định về cán bộ công đoàn được gia hạn HĐLĐ theo nhiệm kỳ mà không phụ thuộc vào thời hạn HĐLĐ đã giao kết;

- Bổ sung thêm mức tiền bồi thường của NSDLĐ cho NLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật và không nhận lại NLĐ làm việc;

- Quy định rõ hơn về tiền lương, bao gồm lương công việc/chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;

- Doanh nghiệp không phải làm thủ tục đăng ký thang bảng lương như trước đây; theo quy định tại Điều 93 thì Doanh nghiệp chỉ cần xây dựng thang bảng lương theo nguyên tắc do Chính phủ quy định và gửi cơ quan quản lý lao động mà không phải đăng ký như trước. Điều này giảm đi rất nhiều thủ tục gây phiền hà cho doanh nghiệp.

- Nâng thời gian và chế độ nghỉ thai sản lên 6 tháng;

- Bỏ quy định về thời hạn thành lập công đoàn và thành lập BCHCĐCS;

- Quy định tiền lương ngày lễ ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương của ngày lễ đó (điều 97)

- Thời gian làm việc ban đêm được quy định thống nhất trên phạm vi cả nước từ 22h - 6h (điều 105)

- Bổ sung quy định "NSDLĐ phải ghi các đợt nghỉ ngắn, nghỉ hàng tuần không phải là ngày chủ nhật vào nội quy lao động" (điều 108, 110)

- Thêm 1 ngày nghỉ Tết âm lịch (điều 115)

Có 11 Nghị định được dự thảo để hướng dẫn BLLĐ 2012; con số vẫn còn khá nhiều nhưng so với 33 Nghị định hướng dẫn BLLĐ cũ thì vẫn giảm tải nhiều hơn cho các Doanh nghiệp khi tiếp cận và áp dụng.

Hy vọng BLLĐ 2012 sẽ giải quyết tốt hơn quan hệ lao động và thúc đẩy quan hệ này phát triển, kéo theo sự phát triển của nền kinh tế.


Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

Hạch toán hàng trưng bày và các vấn đề liên quan đến thuế

Câu hỏi bên diễn đàn Webketoan: "Bên công ty em có xuất hàng mẫu giao cho các đại lý kèm theo hợp đồng thỏa thuận khi giao hàng sẽ thu ngay 50% tiền hàng. Nếu đại lý trưng bày sản phẩm đủ 2 tháng thì coi như bên em đã bán cho họ với giá chỉ bằng 50%. Nếu trong thời gian đó đại lý gửi trả lại nguyên vẹn hàng thì bên em sẽ nhận lại hàng và thanh toán lại 50% giá trị lô hàng lúc giao hàng mà bên em đã nhận tiền.
Vậy trong TH này em cần phải làm như thế nào?"

Nếu phân tích đề bài đơn thuần ta sẽ thấy có 3 mốc thời gian chính:


1. Hạch toán tại thời điểm xuất hàng

2. Hạch toán tại thời điểm thu tiền trước
3. Hạch toán tại thời điểm ghi nhận doanh thu (sau 2 tháng trưng bày)

Tuy nhiên, Luật thuế hiện tại yêu cầu phải xuất hóa đơn ngay khi xuất hàng mẫu không thu tiền, dòng thuế suất gạch bỏ, do đó phải xác định doanh thu giá vốn ngay thời điểm (1). Khi đọc các quy định này tôi chỉ thấy nhắc đến trường hợp hàng mẫu không thu tiền mà không nói trong trường hợp hàng mẫu có thu tiền thì như nào cả.


Quay về câu hỏi của bạn ở diễn đàn kế toán, lúc đầu tôi đi theo hướng giải quyết xem lô hàng này như là hàng gửi bán và hạch toán theo kiểu bán hàng đại lý. Nhưng như vậy rắc rối vì 2 bên phải có hợp đồng bán hàng đại lý, xây dựng các chính sách chiết khấu đi kèm,...


Do đó tôi chuyển hướng sang xử lý xem lô hàng này như hàng mẫu không thu tiền. Sau 2 tháng trưng bày nếu thu được tiền thi ghi nhận là một khoản thu nhập khác

1. Khi xuất hàng mẫu, theo Luật bắt buộc phải xuất hóa đơn GTGT và ghi là hàng mẫu không thu tiền, gạch bỏ dòng thuế suất
Nợ 632/Có 156
Nợ 641/Có 512

2. Sau 2 tháng thu được tiền, xuất hóa đơn GTGT ghi theo giá 50% và có VAT
Nợ 111/Có 711, Có 33311

Hạch toán như vậy ổn chưa? Về mặt pháp luật Thuế đảm bảo chưa?

Đôi điều trao đổi, mong các bạn dành chút thời gian bàn luận!


Cập nhật cách xử lý thứ 2, hạch toán theo 3 mốc thời gian như phân tích ở trên (đồng quan điểm với bạn Lê Thanh Phương), không coi đây là hàng mẫu nữa mà hạch toán theo hướng hàng gửi bán:
1. Khi xuất hàng:
Nợ TK 157 / Có TK 156

2. Khi thu được tiền xem đây là khoản khách hàng trả trước:
Nợ TK 111 / Có TK 131

3. Hai tháng sau khi đủ điều kiện ghi nhận doanh thu, DN xuất hóa đơn GTGT ghi theo giá 50% và có VAT

Nợ TK 632 / Có TK 157
Nợ TK 131 / Có TK 511 Có TK 33311


Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Hỏi đáp tại Hội nghị QT thuế và đối thoại với NNT ngày 12-03-2013 (Nam Định)

Câu hỏi 1:Báo cáo tài chính năm 2012 nộp qua mạng hay nộp trực tiếp tại cơ quan thuế?
Trả lời:
- Các tờ khai nộp qua mạng bao gồm:
+ Bảng cân đối kế toán
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính không nộp được qua mạng, phải nộp trực tiếp tại cơ quan thuế

Câu hỏi 2:Lập hoá đơn GTGT đối với tài sản cố định do doanh nghiệp tự làm?
Trả lời:
Tài sản cố định do doanh nghiệp tự làm khi đưa vào sử dụng, trích khấu hao phải lập hoá đơn GTGT. Trên hoá đơn ghi người bán, người mua là tên doanh nghiệp, dòng giá bán ghi theo giá thành sản xuất tài sản, dòng thuế suất thuế GTGT ghi theo mức thuế suất của tài sản.

Câu hỏi 3:
- Chi phí lãi vay trả cho cán bộ công nhân viên trong và ngoài công ty năm 2012 nhưng thực tế chưa chi trả cho các cá nhân đó thì có được tính là chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN không?
- Năm 2013 mới trả chi phí lãi vay cho các cá nhân này thì tính thuế và kê khai thuế TNCN theo biểu nào?

Trả lời:
- Chi phí phí lãi vay trả cho cán bộ công nhân viên trong và ngoài công ty được tính là chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN.
- Thu nhập từ lãi tiền vay là thu nhập từ đầu tư vốn. Công ty tính thuế TNCN của khoản thu nhập này với thuế suất là 5% và thực hiện khai thuế TNCN tháng (hoặc quý) theo Mẫu số 03/KK-TNCN, quyết toán thuế TNCN theo Mẫu số 06/KK-TNCN (Ban hành kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính).

Câu hỏi 4:
Công ty có trụ sở tại thành phố Nam Định, có công trình xây dựng tại địa bàn huyện thuộc tỉnh Nam Định. Công ty đã trích nộp 2% thuế GTGT của công trình này vào KBNN huyện thì Công ty có phải kê khai khoản thuế đã nộp này như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Công văn số 789/TCT-KK ngày 12/3/2013 của Tổng cục thuế “V/v kê khai, khấu trừ thuế GTGT 2%” thì: Công ty kê khai giấy nộp tiền vào NSNN vào bảng kê mẫu số 01-5/GTGT và đưa lên chỉ tiêu 39 (tổng số thuế GTGT đã nộp của doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh) trên tờ khai thuế GTGT mẫu 01/GTGT để thực hiện bù trừ với số thuế GTGT phải nộp ở trụ sở chính.

Câu hỏi 5:
Cách tính doanh thu để xác định điều kiện được gia hạn thuế GTGT tháng 1, tháng 2, tháng 3/2013 đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trả lời:
Căn cứ Tiết b Khoản 2 Điều 5 Chương II Thông tư số 16/2013/TT-BTC ngày 08/02/2013 của Bộ Tài chính thì cách xác định tiêu chí doanh thu như sau:
- Doanh thu được xác định căn cứ vào tổng cộng chỉ tiêu 34 trên tờ khai thuế GTGT từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2012: không quá 20 tỷ đồng
- Trường hợp doanh nghiệp hoạt động không đủ 12 tháng hoặc mới thành lập trong năm 2012 thì tiêu chí doanh thu được xác định là tổng cộng chỉ tiêu 34 (Tổng doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra) trên tờ khai thuế GTGT của các tháng hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá không vượt quá 1,66 tỷ đồng nhân với (x) số tháng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Câu hỏi 6:
Quy định về chuyển lỗ, hàng năm doanh nghiệp có phải đăng ký chuyển lỗ với cơ quan thuế không?

Trả lời:
- Việc chuyển lỗ được quy định như sau:
+ Doanh nghiệp có các khoản lỗ phát sinh từ năm 2009 trở đi thì phải chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập chịu thuế của những năm tiếp theo. Thời gian chuyển lỗ không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ
+ Các khoản lỗ phát sinh trước năm 2009 thì thực hiện chuyển lỗ theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN có hiệu lực thi hành tại thời điểm đó.
- Doanh nghiệp không phải đăng ký chuyển lỗ với cơ quan thuế.

Câu hỏi 7:
Công ty có cá nhân làm việc chưa đủ 12 tháng thì nghỉ hưu. Cá nhân đó có được uỷ quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN không hay phải tự quyết toán. Cá nhân đó chỉ có duy nhất 1 nguồn thu nhập tại Công ty

Trả lời:
Theo hướng dẫn tại Mục II Công văn số 187/TCT-TNCN ngày 15/01/2013 “V/v hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2012” thì cá nhân này được uỷ quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN.

Câu hỏi 8:
Trong năm 2012 đơn vị có trả cho ông A tiền lương đã trừ các khoản bảo hiểm và giảm trừ gia cảnh như sau:
- Từ tháng 1 đến tháng 6/2012 là 4 triệu đồng/ tháng
- Từ tháng 7 đến tháng 12/2012 là 6 triệu đồng / tháng
Xin hỏi đơn vị tính thuế TNCN cho ông A như thế nào?
Trả lời:
Theo Luật thuế TNCN thì trường hợp thu nhập mà đơn vị hỏi là thu nhập tính thuế nên:
- Từ tháng 1 đến tháng 6/2012: Đơn vị kê khai và tính thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần với thuế suất thuế TNCN là 5%
- Từ tháng 7 đến tháng 12/2012: Đơn vị kê khai và tính thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần và không được miễn thuế TNCN do mức thu nhập tính thuế TNCN ở bậc 2, cụ thể thuế TNCN phải nộp là: 5 triệu x 5% + 1 triệu x 10%
Cuối năm tổng hợp thu nhập tính thuế TNCN, nếu ở bậc 1 thì được miễn 06 tháng cuối năm. Trong trường hợp này nếu ông A không có nguồn thu nhập nào khác nữa thì ông A thuộc đối tượng được miễn thuế TNCN 06 tháng cuối năm (vì thu nhập chịu thuế bình quân năm là 5 triệu đồng / tháng)

Câu hỏi 9:
Tại thời điểm quyết toán thuế TNCN năm 2012 cá nhân mới kê khai giảm trừ gia cảnh thì tại cột 13 - Thời điểm tính giảm trừ gia cảnh (Mẫu số 16/ĐK-TNCN) ghi tháng phát sinh người phụ thuộc hay ghi tháng kê khai giảm trừ gia cảnh

Trả lời:
Cột 13 - Thời điểm tính giảm trừ gia cảnh (Mẫu số 16/ĐK-TNCN) ghi tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng người phụ thuộc.

Câu hỏi 10:
Công ty chi trả thu nhập cho người lao động trong năm 2012 như sau:
- Lương tháng 12/2011 trả vào tháng 01/2012
- Từ tháng 01/2012 đến tháng 10/2012: Công ty chưa trả lưong mà chỉ tạm ứng lương cho người lao động
- Lương tháng 11/2012 và tháng 12/2012 trả vào tháng 01/2013
Đề nghị hướng dẫn Công ty quyết toán thuế TNCN năm 2012.

Trả lời:
- Thời điểm chi trả thu nhập là thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế TNCN nên Công ty quyết toán thu nhập chịu thuế năm 2012 gồm: lương tháng 12/2011 + khoản tạm ứng lương từ tháng 01/2012 đến tháng 10/2012.
- Lương tháng 11/2012, lương tháng 12/2012 trả vào tháng 01/2013 và khoản tiền lương còn thiếu chưa trả từ tháng 01/2012 đến tháng 10/2012 nếu trả trong năm 2013 thì quyết toán vào thu nhập chịu thuế TNCN năm 2013.

Câu hỏi 11:
Năm 2012, Công ty tôi có phát sinh chi phí sửa chữa văn phòng. Vậy Công ty tôi phải hạch toán thế nào đối với nghiệp vụ trên?

Trả lời:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định; Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp, trường hợp các khoản chi phí này có đầy đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp, đúng quy định thì Công ty hạch toán khoản chi phí sửa chữa văn phòng vào chi phí quản lý doanh nghiệp.

Câu hỏi 12:
DNTN A kinh doanh các mặt hàng vật liệu xây dựng, khí công nghiệp phục vụ chủ yếu cho ngành xây dựng. Năm 2013, doanh nghiệp ký kết hợp đồng bán hàng cho DN sản xuất trong khu chế xuất. Vậy khi bán các mặt hàng (Oxy, gas, NH3) cho Công ty này, DN tôi lập hoá đơn GTGT cho DN trong khu chế xuất với mức thuế suất là 10% hay 0%?
Đồng tiền ghi trên hoá đơn ghi là USD hay ghi tiền Việt Nam đồng.

Trả lời:
1. Về thuế suất.
- Căn cứ Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về Thuế GTGT quy định:
+ Tại khoản 20 Điều 4 Chương I.
“...
Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, ... Quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá giữa các khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.”
+ Tại Điều 9 về thuế suất 0%.
“1. Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu; ..., trừ các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.
a) Hàng hóa xuất khẩu bao gồm:
...
- Hàng hóa bán vào khu phi thuế quan theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; hàng bán cho cửa hàng miễn thuế;
...”
Căn cứ quy định nêu trên, Công ty bán hàng cho DN trong khu chế xuất và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Thông tư số 06/2012/TT-BTC nêu trên thì hàng hoá bán cho DN trong khu chế xuất được áp dụng thuế suất 0%.

2. Về đồng tiền ghi trên hoá đơn: Công ty thực hiện theo quy định tại điểm 2.e Điều 14 Chương III Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ:
“e) Đồng tiền ghi trên hóa đơn
Đồng tiền ghi trên hóa đơn là đồng Việt Nam.
Trường hợp người bán được bán hàng thu ngoại tệ theo quy định của pháp luật, tổng số tiền thanh toán được ghi bằng nguyên tệ, phần chữ ghi bằng tiếng Việt.
Ví dụ: 10.000 USD - Mười nghìn đô la Mỹ.
Người bán đồng thời ghi trên hóa đơn tỷ giá ngoại tệ với đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm lập hóa đơn.
Trường hợp ngoại tệ thu về là loại không có tỷ giá với đồng Việt Nam thì ghi tỷ giá chéo với một loại ngoại tệ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá”.

Câu hỏi 13:
Công ty chúng tôi thuộc diện Doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng tiêu chí về vốn. Nhưng Công ty chúng tôi tổ chức theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Trong đó Công ty mẹ không thuộc diện DN vừa và nhỏ, chiếm tỷ lệ vốn góp vào Công ty chúng tôi trên 70%. Vậy Công ty chúng tôi có thuộc diện miễn giảm thuế TNDN năm 2012 không?

Trả lời:
Theo hướng dẫn tại điểm d khoản 2 Điều 1 Thông tư số 140/2012/TT-BTC ngày 21/8/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 60/2012/NĐ-CP ngày 30/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 29/2012/QH13 của Quốc hội về ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân

“Trường hợp doanh nghiệp là các công ty tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con mà công ty mẹ không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa nắm giữ trên 50% vốn chủ sở hữu của công ty con, nếu công ty con đáp ứng tiêu chí về vốn hoặc lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và không kinh doanh trong các lĩnh vực không được giảm thuế thì cũng thuộc đối tượng được giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2012.”

Căn cứ hướng dẫn trên, thì Công ty được giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2012 trừ các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại khoản 4 Điều 1 Thông tư số 140/2012/TT-BTC ngày 21/8/2012 của Bộ Tài chính nêu trên.

Câu hỏi 14:
Công ty tôi có nộp các khoản đảng phí, công đoàn cho người lao động, vậy tôi xin hỏi các khoản đóng góp này có được tính giảm trừ cho người lao đông, khi tính thuế TNCN không?

Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại Mục I, Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 thì các khoản đảng phí, công đoàn mà công ty nộp cho người lao động không được tính giảm trừ vào thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập tính thuế TNCN.

Câu hỏi 15:
Khoản chi đóng góp vào quỹ từ thiện hoặc ủng hộ quỹ người nghèo thì có được tính giảm trừ vào thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập tính thuế của đối tượng nộp thuế là cá nhân không?
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại điểm 3.2 khoản 3 Mục I Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 thì các khoản đóng góp vào quỹ từ thiện hoặc ủng hộ quỹ người nghèo nếu được thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 148/2007/NĐ-CP ngày 25/9/2007 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học, không nhằm mục đích lợi nhuận và quy định tại các văn bản khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ và có chứng từ thu hợp pháp do các tổ chức, các quỹ của Trung ương hoặc của tỉnh cấp thì được tính giảm trừ vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế của đối tượng nộp thuế là cá nhân.

Câu hỏi 16:
Trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên thì đơn vị trả thu nhập kê khai quyết toán thuế TNCN như thế nào?

Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 14 Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 và Điều 1 Thông tư số 113/2011/TT-BTC ngày 04/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn đơn vị như sau:
Tại đơn vị mà cá nhân đăng ký giảm trừ bản thân thực hiện khấu trừ thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần và kê khai trên phục lục 05A/KK-TNCN (ban kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011) và không uỷ quyền quyết toán thay.
Tại đơn vị mà cá nhân không đăng ký giảm trừ bán thân thực hiện khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trả cho cá nhân có mã số thuế và 20% đối với cá nhân không có mã số thuế và thực hiện kê khai trên phục lục 05B/KK-TNCN (ban kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011).

Câu hỏi 17:
Ngày 01/01/2013 Công ty tôi thuộc diện chuyển cơ quan thuế quản lý mới chi cục thuế TP Nam Định, Công ty tôi đang thực hiện nộp hồ sơ khai thuế điện tử và muốn tiếp tục sử dụng hình thức khai thuế điện tử khi chuyển cơ quan thuế quản lý mới. Vậy công ty tôi phải làm những thủ tục gì?

Trả lời:
Hướng dẫn tiếp tục sử dụng nộp hồ sơ khai thuế điện tử khi chuyển cơ quan thuế quản lý mới:
Bước 1: website: http://kekhaithue.gdt.gov.vn
Bước 2: Đăng nhập hệ thống
Bước 3: Tài khoản/ngừng dịch vụ/lý do khác/đăng ký ngừng
Hệ thống khai thuế điện tử tự động kết xuất và gửi Thông báo xác nhận ngừng sử dụng hình thức khai thuế điện tử của NNT (mẫu số 08/TB-KĐT ban hành kèm theo Thông tư số 180/2010/TT-BTC ngày 11/11/2010) qua địa chỉ thư điện tử của NNT.
Bước 4: Người nộp thuế đăng ký lại dịch vụ kê khai thuế qua mạng tại website:http://kekhaithue.gdt.gov.vn

Câu hỏi 18:
Tiền thuế Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2012 và tiền phạt nộp chậm có được hoàn lại hay không? thủ tục hoàn lại như thế nào?

Trả lời:
Căn cứ điểm c khoản 2 Mục I Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ thì Công ty được hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường đã nộp từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 đến hết ngày 14 tháng 11 năm 2012 đối với túi nylon làm bao bì đóng gói sẵn sản phẩm theo quy định tại Nghị định số 69/2012/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ. Tuy nhiên đến nay Bộ Tài chính chưa có văn bản hướng dẫn Cụ thể về việc hoàn thuế này