Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

CV 6167/CT-TTHT ngày 29/08/2013 về viết tắt một số chỉ tiêu trên hóa đơn

Số: 6167/CT-TTHT
V/v: viết tắt một số chỉ tiêu trên hóa đơn
TP. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 08 năm 2013

Kính gửi:
- Các phòng Kiểm tra, Thanh tra thuộc Cục;
- Các Chi cục thuế quận, huyện.

Trong thời gian qua, Cục Thuế TP nhận được nhiều phản ánh của các doanh nghiệp về việc cơ quan thuế không chấp nhận (không cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào, không tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN) các hóa đơn GTGT mà tất cả các chỉ tiêu, nội dung trên hóa đơn đều đúng, chỉ ghi tắt hoặc rút gọn chỉ tiêu tên, địa chỉ người mua, người bán.

Về vấn đề này, Cục Thuế TP có ý kiến như sau:
- Tại Khoản 2b Điều 14 Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15/5/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định:
Nội dung trên hóa đơn đã lập: Tiêu thức "Tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán", "tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua": ghi tên đầy đủ hoặc tên viết tắt theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế.

Như vậy, về nguyên tắc, khi lập (nhận) hóa đơn, tiêu thức tên, địa chỉ của người bán và người mua được ghi theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký thuế. Trên thực tế có rất nhiều Công ty có tên và địa chỉ nếu ghi đầy đủ theo Giấy chứng nhận ĐKKD thì không thể ghi hết một dòng tại chỉ tiêu tên, địa chỉ trên tờ hóa đơn, hơn nữa việc viết tắt hoặc rút gọn một số danh từ thông dụng như: "Phường" thành "P"; "Quận" thành "Q", "Thành phố Hồ Chí Minh" thành "TP.HCM", "Việt Nam" thành "VN" hoặc "Cổ phần" là "CP", "Trách nhiệm Hữu hạn" là "TNHH", "khu công nghiệp là "KCN", "sản xuất" là "SX",… vẫn xác định được tên, địa chỉ Công ty và để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN khi lập hóa đơn mua bán hàng hóa, dịch vụ, Cục Thuế TP đã có nhiều văn bản trả lời cho doanh nghiệp (có gửi cho các Phòng, Chi cục): hóa đơn có viết tắt hoặc rút gọn tên, địa chỉ như trên thì vẫn được xem là hợp pháp, được sử dụng để kê khai thuế.

Cục Thuế thông báo đến các Phòng, các Chi cục biết để thực hiện thống nhất./.

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN và NĐ số 65/2013/NĐ-CP

Ngày 15 tháng 08 năm 2013 Bộ Tài Chính ban hành Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện luật thuế thu nhập cá nhân và nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều luật thuế thu nhập cá nhân và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế Thu Nhập Cá Nhân.

Theo thông tư này:

♦ Các nội dung về chính sách thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP hiệu lực từ thời điểm Luật, Nghị định có hiệu lực (01/7/2013).

♦ Bãi bỏ hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân tại các Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008, 10/2009/TT-BTC ngày 21/01/2009, 42/2009/TT-BTC ngày 09/3/2009, Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009, 161/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009, 164/2009/TT-BTC ngày 13/8/2009, Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010, 12/2011/TT-BTC ngày 26/01/2011, 78/2011/TT-BTC ngày 08/6/2011, Thông tư số 113/2011/TT-BTC ngày 04/8/2011 của Bộ Tài chính.

♦ Bãi bỏ các nội dung hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân do Bộ Tài chính ban hành trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành không phù hợp với hướng dẫn tại Thông tư 111/2013/TT-BTC .

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2013.

Download công văn tại đây

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2013

Công văn Thuế hướng dẫn thuế môn bài, lãi vay cá nhân và thuế tài nguyên

1. Công văn 1213 ngày 15/04/2013 về giá tính thuế tài nguyên:

Theo đó cơ sở sản xuất kinh doanh khai thác tài nguyên phải kê khai nộp thuế tài nguyên đối với sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ theo giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên ghi trên hóa đơn, chứng từ do đơn vị trực tiếp bán ra; Trường hợp giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên ghi trên hóa đơn, chứng từ thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định thì giá tính thuế tài nguyên theo giá do UBND cấp tỉnh quy định

Download công văn 1213

2. Công văn 1263 ngày 18/04/2013 về thuế môn bài đơn vị tạm ngừng kinh doanh:

Đối với NNT thông báo tạm ngừng kinh doanh cả năm dương lịch thì không kê khai nộp thuế môn bài đối với năm đó
Nếu NNT ra kinh doanh trước thời hạn trong 6 tháng đầu năm thì nộp thuế môn bài cả năm, nếu ra kinh doanh trong 6 tháng cuối năm thì nộp 50% thuế môn bài cả năm.

Download công văn 1263

3. Công văn 1270 ngày 18/04/2013 về thuế TNCN với lãi cho vay:
Kể từ ngày 01/01/2009 các khoản lãi vay mà Công ty trả cho cá nhân là khoản thu nhập từ đầu tư vốn phải chịu thuế TNCN. Trường hợp Công ty chuyển toàn bộ khoản lãi vay thành khoản vay dài hạn với cá nhân thì Công ty sẽ tính và khấu trừ thuế TNCN trước khi chuyển khoản lãi vay này thành khoản vay dài hạn

Download công văn 1270

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

TT 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 hướng dẫn chế độ Quản Lý,Sử Dụng Và Trích Khấu Hao Tài Sản Cố Định.

Một số lưu ý trong Thông Tư:

QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

Điều 3. Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định:

1. Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:

a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

b) Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;

c) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.

Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập.

Đối với súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một TSCĐ hữu hình.

Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây, hoặc cây thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình.

2. Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định vô hình:

Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, mà không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình.

Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả ba tiêu chuẩn nêu tại khoản 1 Điều 3 Thông tư này thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.

..............................vv....

Điều 14. Hiệu lực thi hành:

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/06/2013 và áp dụng từ năm tài chính năm 2013.

2. Thông tư này thay thế Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Kể từ năm tính thuế 2013, tiết k điểm 2.2 khoản 2 Điều 6 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được thực hiện theo quy định sửa đổi, bổ sung sau:

“k) Quyền sử dụng đất lâu dài không được trích khấu hao và phân bổ vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; quyền sử dụng đất có thời hạn nếu có đầy đủ hoá đơn chứng từ và thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật, có tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì được phân bổ dần vào chi phí được trừ theo thời hạn được phép sử dụng đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất giao có thu tiền có thời hạn được trích khấu hao để tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp”.

3. Trường hợp các cá nhân kinh doanh có TSCĐ đáp ứng đầy đủ các quy định về quản lý tài sản cố định tại Thông tư này thì được trích khấu hao tài sản cố định để xác định chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân.

4. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để được giải quyết kịp thời./.

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

“Lệch pha” kiểm toán ngày càng nhiều

Sai số gần hết BCTC

CTCP Than Vàng Danh - Vinacomin (TVD) vừa công bố BCTC đã được kiểm toán năm 2012. Theo đó, ghi nhận lợi nhuận sau thuế sau khi kiểm toán là 57,4 tỷ đồng, tăng 45,8 tỷ đồng so với 11,6 tỷ đồng trước khi kiểm toán (mức chênh lệch trước và sau kiểm toán gần 5 lần).

Tổng CTCP Dung dịch khoan và Hóa phẩm dầu khí (PVC) thông báo báo cáo kiểm toán hợp nhất năm 2012. Theo đó, lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán tăng gần 50 tỷ đồng so với trước kiểm toán lên 271,63 tỷ đồng. Một doanh nghiệp dầu khí khác cũng có sự chênh lệch lớn trước và sau kiểm toán là Tổng CTCP Dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PVS).

Cụ thể, so với BCTC do doanh nghiệp tự lập và BCTC đã kiểm toán thì doanh thu thuần tăng 97,6 tỷ đồng. Cùng với những thay đổi trong các khoản chi phí và doanh thu, lãi ròng của doanh nghiệp tăng thêm 46 tỷ đồng.

Tổng CTCP Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VNR) cũng vừa công bố BCTC 2012 sau kiểm toán. Ngược lại, so với các công ty nêu trên, so với BCTC trước kiểm toán, phần lợi nhuận sau thuế dành cho cổ đông công ty mẹ của VNR năm 2012 giảm 75 tỷ đồng, chỉ còn 255,8 tỷ đồng.

Nguyên nhân chủ yếu do khoản doanh thu hoạt động tài chính sau kiểm toán được ghi nhận chỉ với 304,4 tỷ đồng, trong khi trước đó VNR ghi nhận 379,4 tỷ đồng.


Doanh nghiệp có sự chênh lệch cả về con số lẫn khoản mục trước và sau kiểm toán lớn nhất tính đến thời điểm hiện nay là CTCP Nhiệt điện Phả Lại (PPC). Theo BCTC hợp nhất sau kiểm toán vừa được PPC công bố, gần như phần lớn các khoản mục chính của BCTC đều có sai số.

Các khoản mục sai số có thể kể là: các khoản phải thu ngắn hạn tăng 28,4 tỷ đồng; các khoản đầu tư tài chính dài hạn giảm 15,6 tỷ đồng; nợ ngắn hạn tăng 5,5 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu tăng 7,3 tỷ đồng; doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng 5,1 tỷ đồng; lợi nhuận gộp về bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ tăng 5,1 tỷ đồng; chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 261 triệu đồng; thu nhập khác tăng 20,8 tỷ đồng; phát sinh lỗ trong công ty liên doanh, liên kết là 15,6 tỷ đồng; tổng lợi nhuận kế toán trước thuế tăng 10 tỷ đồng; chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tăng 5,5 tỷ đồng; chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại tăng 116,7 tỷ đồng.

Tổng hợp các ảnh hưởng này đã làm cho lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp giảm 112,2 tỷ đồng.

Kẽ hở chuẩn mực kế toán?

Giải trình về sự chênh lệch của BCTC, ông Nguyễn Văn Trịnh, Chủ tịch HĐQT của TVD, cho rằng thực hiện theo Thông tư 52/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK, thì TVD phải công bố BCTC quý trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày kết thúc quý.

Do đó, để đáp ứng quy định, TVD đã tiến hành lập và nộp BCTC quý IV-2012 vào ngày 19-1-2013. Trong khi đó, TVD là công ty con của Tập đoàn Công nghiệp than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), nên sau khi kết thúc năm doanh nghiệp phải làm các thủ tục để nghiệm thu khối lượng mỏ và quyết toán chi phí với TKV.

Tại thời điểm lập báo cáo tài chính quý IV-2012, TVD chưa triển khai nghiệm thu khối lượng và quyết toán chi phí với TKV được. Chính vì vậy, số liệu trên BCTC do TVD tự lập sẽ có sự chênh lệch với BCTC sau kiểm toán.

Theo ông Tôn Anh Thi, Tổng giám đốc PVC, tình trạng chênh lệch lớn trước và sau kiểm toán là do doanh nghiệp được ghi nhận tăng thêm lợi nhuận sau thuế trên BCTC hợp nhất công ty con sau kiểm toán (Công ty TNHH Dung dịch khoan M-I Việt Nam).

Ngoài ra, phần giảm lợi nhuận chưa thực hiện từ các giao dịch mua bán hàng và cung cấp dịch vụ của các đơn vị thành viên hơn 33 tỷ đồng khiến phần lợi nhuận tăng tương ứng. Trong khi đó, theo giải trình của VNR, nếu áp dụng ghi nhận chênh lệch tỷ giá theo VAS10, số dư lợi nhuận chưa phân phối tại ngày 1-1-2012 sẽ tăng 32,3 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế cho năm tài chính kế thúc ngày 31-12-2012 sẽ giảm tương ứng.

Nếu vậy, khoản mục “chênh lệch tỷ giá hối đoái” được phản ánh trong mục “vốn chủ sở hữu” trên bảng cân đối kế toán tại ngày 1-1-2012 sẽ không có số dư. Chính vì vậy, ban lãnh đạo doanh nghiệp đã quyết định áp dụng việc ghi nhận chênh lệch tỷ giá theo hướng dẫn tại Thông tư 179 và tin tưởng việc áp dụng đó cùng với việc đồng thời công bố đầy đủ thông tin về sự khác biệt trong trường hợp áp dụng theo hướng dẫn VAS10 sẽ cung cấp đầy đủ hơn các thông tin cho người sử dụng BCTC hợp nhất.

Theo thống kê đến thời điểm hiện nay, có hơn 30 doanh nghiệp niêm yết có BCTC lệch pha trước và sau kiểm toán. Hiện tượng số doanh nghiệp có sai sót ngày càng gia tăng do chưa có chế tài đối với các hành vi này dù nhiều chuyên gia đã lên tiếng cảnh báo.

Theo nhận định của các chuyên gia, chênh lệch BCTC trước và sau kiểm toán của doanh nghiệp có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Vấn đề là các nguyên nhân này rất khó nhận biết và ngay cả cơ quan quản lý rất khó phân biệt được do các chuẩn mực kế toán và kiểm toán của Việt Nam vẫn còn nhiều kẽ hở.

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

Tổng hợp luận văn các ngành kinh tế

Các bạn vào đây đăng ký thành viên và download free nhé:
http://accvietnam.net/forum/forumdisplay.php/32-Tai-lieu-De-thi-Luan-van.html

1. Luận văn tốt nghiệp ngành Bảo hiểm
Part 1 | Part 2

2. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh doanh quốc tế
Part 1 | Part 2

3. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế đầu tư
Part 1 | Part 2

4. Luận văn tốt nghiệp ngành Marketing
Part 1 | Part 2

5. Luận văn tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh
Part 1 | Part 2 | Part 3 | Part 4 | Part 5

6. Luận văn tốt nghiệp ngành Tài chính - Ngân hàng
Part 1 | Part 2 | Part 3 | Part 4

7. Luận văn tốt nghiệp ngành Thương mại
Part 1 | Part 2 | Part 3

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Hạch toán cổ phiếu thưởng sao cho đúng?

Hiện tại các Công ty cổ phần đang quyết định chia cổ tức, trong đó có việc chia cổ tức bằng cổ phiếu và thưởng bằng cổ phiếu. Bài viết này giúp độc giả thấy rõ bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu và đưa ra hướng xử lý kế toán đối với các bên liên quan

Bản chất của cổ phiếu thưởng

Cổ phiếu được chia theo cổ tức thường được gọi là cổ phiếu thưởng. Cổ phiếu thưởng không được coi là cổ tức thực sự bởi vì cổ tức này không được thanh toán bằng tiền. Việc chia cổ tức bằng cổ phiếu chỉ làm tăng đến số lượng cổ phiếu lưu hành mà các cổ đông nắm giữ. Chính vì thế, về bản chất, nó làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu sau khi chia.

Thông thường cổ phiếu thưởng được chia theo một tỷ lệ nhất định. Ví dụ: Đại hội đồng cổ đông Công ty Cổ phần TT nhất trí chia toàn bộ cổ tức bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 5:1. Điều đó có nghĩa là cổ đông nắm giữ 05 cổ phiếu cũ sẽ được “thưởng” 01 cổ phiếu mới phát hành, và tổng số cổ phiếu lưu hành sẽ tăng lên 20%. Khi đó chúng ta có thể thấy kết quả của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu có thể dẫn đến giá trị của mỗi cổ phiếu giảm 20% do tổng giá trị vốn chủ sở hữu không thay đổi.

Xử lý kế toán

Cổ phiếu thưởng làm tăng số lượng cố phiếu lưu hành và làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu. Tuy nhiên, xử lý kế toán lại không giống nhau trong mọi trường hợp, và phụ thuộc vào yếu tố giá trị của cổ phiếu thưởng, có nghĩa là tỷ lệ chia. Theo thông lệ, khi tỷ lệ cổ phiếu thưởng nhỏ vào khoảng 20% - 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ. Xử lý kế toán trong trường hợp này sẽ được minh hoạ bởi ví dụ dưới đây. Những trường hợp tỷ lệ cổ phiếu thưởng lớn hơn 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng lớn, và trường hợp này ít xảy ra. Một ví dụ điển hình của phát hành cổ phiếu thưởng lớn là vào 1973, hãng Walt Diney công bố tỷ lệ cổ phiếu thưởng 100%, có nghĩa là cứ 01 cổ phiếu nắm giữ sẽ được nhận thêm 01 cổ phiếu mới và như thế số lượng cổ phiếu lưu hành tăng lên gấp đôi. Điều đó dẫn đến giá trị cổ phiếu bị “loãng”, làm cho giá thị trường của cổ phiếu bị sụt giảm lớn.



Ví dụ minh hoạ trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ:

Công ty ABC có 100.000 cổ phiếu lưu hành với mệnh giá $1,00 và với giá thị trường là 6,60$. Như vậy tổng giá trị thị trường của ABC là 100.000 x $6,60 = $660.000.

Báo cáo tài chính ngày 31/12/XX của ABC có số liệu như sau:

- Vốn cổ phần thường lưu hành (100.000 cổ phiếu) $100.000

- Lợi nhuận chưa phân phối $200.000

Tổng vốn chủ sở hữu $300.000

Đại hội đồng cổ đông của ABC quyết định chia toàn bộ lợi nhuận bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 10:1. Có nghĩa là sẽ phát hành 10.000 cổ phiếu mới. Sau khi chia, ABC sẽ có tổng cộng 110.000 cổ phiếu lưu hành.
Giá trị cổ phiếu mới phát hành là: $200.000 : 10.000 = $20

Giá trị cổ phiếu mới phát hành theo mệnh giá là: $1,00 x 10.000 = $10.000

Chênh lệch giữa giá trị cổ phiếu theo giá phát hành và theo mệnh giá = $200.000 - $10.000 = $190.000

Sau khi chia cổ phiếu thưởng Báo cáo tài chính của ABC có số liệu như sau:

- Vốn cổ phần thường lưu hành (110.000 cổ phiếu) $100.000 + $10.000 = $110.000

- Thặng dư vốn $190.000

Tổng vốn chủ sở hữu $300.000

Theo như ví dụ trên thì giá trị cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ sau khi được chia sẽ không thay đổi so với trước khi được chia (đều bằng $300.000). Trường hợp này đã ngoại trừ các yếu tố tác động đến giá trị của cổ phiếu trên thị trường như cung - cầu, kỳ vọng của nhà đầu tư,… mà chỉ tập trung đến tác động của việc chia cổ phiếu thưởng.

Tác động đến giá trị thị trường của cổ phiếu

Theo suy luận logic thông thường, cổ phiếu thưởng có thế:

(1) không làm ảnh hưởng đến giá trị của công ty

(2) làm tăng giá trị của công ty

(3) làm giảm giá trị của công ty

Quan niệm chuẩn về cổ phiếu thưởng là nó không làm thay đổi giá trị tài sản của nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp. Theo ví dụ trên, giá trị thị trường của ABC là $660.000. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, số cổ phiếu lưu hành là 110.000 cổ phiếu, và mỗi cổ phiếu có thế có giá trị là $660.000 : 110.000 = $6,00.

Trường hợp một cổ đông năm giữ 1000 cổ phiếu trước khi chia, có giá $6.600. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, cổ đông đó có 1.100 cổ phiếu và tổng giá trị của nó có thể sẽ là 1.100 x $6,00 = $6.600. Như vậy, cổ phiếu thưởng, thực chất, không có ảnh hưởng về mặt kinh tế. Và trên lý thuyết, việc xác định tỷ lệ chia càng cao thì giá trị cổ phiếu càng giảm và sẽ ảnh hưởng đến giá trị thị trường của số cổ phiếu ban đầu mà cổ đông nắm giữ.